Làm gì để phát triển khả năng tự điều tiết ở thanh thiếu niên

07:08 01/12/2023

LÀM GÌ ĐỂ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG TỰ ĐIỀU TIẾT Ở THANH THIẾU NIÊN?

Ảnh: Maria Voronovich/ Getty Images

1. Khả năng tự điều tiết là gì?

Tự điều tiết (self-regulation)[1] [2]  được định nghĩa là khả năng quản lý sự chú ý, cảm xúc và hành động của một người. Thông qua quá trình tự điều tiết, các cá nhân kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc, hành động bột phát, nhu cầu và hành vi của mình. Đây là một trong 5 yếu tố của trí tuệ cảm xúc: tự nhận thức (self-awareness), tự điều tiết (self-regulation), động lực (motivation), đồng cảm (empathy) và kỹ năng xã hội (social skills); một khái niệm được phát triển bởi nhà tâm lý học Daniel Goleman.

2. Khả năng tự điều tiết có quan trọng không?

Khả năng tự điều tiết liên quan đến “khoảng dừng” giữa suy nghĩ/cảm giác và hành động, là khoảng trống để một người dành thời gian để suy nghĩ thấu đáo mọi việc, lập kế hoạch, kiên nhẫn chờ đợi. Việc thiếu khả năng tự điều tiết sẽ gây ra nhiều vấn đề trong cuộc sống. Ví dụ: một đứa trẻ la hét hoặc đánh bạn bè vì bực bội sẽ không được bạn bè yêu mến và có thể bị kỷ luật ở trường; một người trưởng thành có kỹ năng tự điều tiết kém có thể gặp khó khăn trong việc xử lý căng thẳng, dễ lo lắng, tức giận, và thậm chí có thể gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa khả năng tự điều tiết và nguy cơ sử dụng ma túy, nghiện ma túy như: Khả năng tự điều tiết của người nghiện ma túy thấp hơn so với người không nghiện ma túy. Việc sử dụng chất gây nghiện có thể liên quan đến sự thiếu hụt khả năng tự kiểm soát và điều tiết cảm xúc (Bakhshani & Hossienbor, 2013); Khả năng tự điều tiết thấp có thể liên quan đến khả năng dễ bị lệ thuộc vào chất gây nghiện (Khantzian, 2003); Thiếu hụt trong việc điều tiết cảm xúc liên quan đến thử nghiệm và lệ thuộc thuốc (Dawes, Tarter, & Kirisci, 1997; Khantzian, 1997).

Tự điều tiết giúp trẻ em và thanh thiếu niên học hỏi, cư xử tốt, hòa đồng với người khác và trở nên độc lập. Khả năng tự điều tiết bắt đầu phát triển nhanh chóng trong những năm trẻ mới biết đi, trẻ mẫu giáo và tiếp tục phát triển đến tuổi trưởng thành. Những hỗ trợ để phát triển khả năng tự điều tiết trong giai đoạn thanh thiếu niên là cực kỳ quan trọng bởi đây là giai đoạn có những thay đổi lớn trong não bộ và tâm sinh lý của một người. Đây cũng là độ tuổi có nhiều nhu cầu về khả năng tự điều tiết như tự đưa quyết định, sống độc lập; đồng thời, lại phải đối mặt với nhiều căng thẳng và áp lực. Việc phát triển kỹ năng tự điều tiết trong giai đoạn thanh thiếu niên nhằm giảm nguy cơ có những quyết định và hành động tiêu cực, giúp xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, gia tăng sự hạnh phúc và thành công trong cuộc sống.

Ngoài ra, để phòng ngừa và điều trị rối loạn lệ thuộc chất gây nghiện[3] [4]  ở thanh thiếu niên, cũng cần xây dựng và khai thác các chiến lược bao gồm cải thiện khả năng tự điều tiết. Điều này đặc biệt quan trọng đối với thanh thiếu niên có trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu; đối với nhóm này, các can thiệp trong thời niên thiếu và thanh niên có thể làm giảm các hành vi nguy cơ và tăng khả năng phục hồi.

3. Khả năng tự điều tiết phát triển như thế nào?

Việc kích hoạt khả năng tự điều tiết chịu ảnh hưởng bởi sự kết hợp của các yếu tố cá nhân và bên ngoài, bao gồm: sinh học, kỹ năng, động lực, sự hỗ trợ của người chăm sóc và môi trường.

Yếu tố bên trong nhất ảnh hưởng đến khả năng tự điều tiết của trẻ bao gồm yếu tố sinh học, di truyền và tính khí của đứa trẻ, góp phần tạo nên sự khác biệt của từng cá nhân trong khả năng tự điều tiết. Nhân tố lớn tiếp theo là các kỹ năng tự điều tiết mà đứa trẻ hoặc thanh thiếu niên đã phát triển theo thời gian, những kỹ năng này thường được xem làm mục tiêu cho các biện pháp can thiệp như các khóa học trí tuệ cảm xúc, chương trình dạy kỹ năng sống… Tiếp theo là động lực tự điều tiết của một cá nhân, động lực này có thể bắt nguồn từ bên ngoài, ví dụ: được điểm cao, được ai đó khen thưởng hoặc phải chịu hậu quả nào đó… hoặc các mục tiêu và giá trị bên trong, ví dụ: động lực phát triển bản thân, cảm giác hạnh phúc khi làm được một điều bản thân đã nỗ lực, cảm giác tích cực khi giúp được một ai đó... Sự hỗ trợ của người chăm sóc, như cha mẹ, giáo viên hoặc người cố vấn, là lớp tiếp theo trong mô hình. Yếu tố này giúp củng cố các kỹ năng tự điều tiết và cũng là bước đệm cho một người tránh khỏi những trải nghiệm bất lợi trong môi trường lớn hơn. Cuối cùng, môi trường bao gồm các yêu cầu hoặc tác nhân gây căng thẳng đặt lên một cá nhân cũng như các nguồn lực bên ngoài sẵn có cũng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tự điều tiết của một người.

Các yếu tố này tương tác với nhau để hỗ trợ quá trình tự điều tiết và tạo cơ hội can thiệp để xây dựng, phá triển khả năng tự điều tiết cho một người. Việc xác định các yếu tố này có thể hỗ trợ quá trình xây dựng những can thiệp phù hợp giúp tăng khả năng tự điều tiết ở thanh thiếu niên.

4. Làm gì để phát triển khả năng tự điều tiết ở thanh thiếu niên?

  • Tự xây dựng chiến lược để cải thiện khả năng điều tiết

Bước đầu tiên để rèn luyện khả năng tự điều tiết là nhận ra rằng mọi người đều có quyền lựa chọn cách phản ứng với các tình huống. Kể cả khi bạn cảm thấy cuộc đời đã đối xử tệ với bạn thì điều quan trọng nhất không phải là tình trạng đó tệ như thế nào mà là cách bạn đối xử với những điều tồi tệ đó. Bạn nên biết rằng trong mọi tình huống, bạn có nhiều sự lựa chọn hơn là tấn công hoặc né tránh. Đôi lúc bạn sẽ thấy mọi thứ ngoài tầm kiểm soát của mình, khi đó, hãy chậm lại và quan sát chính mình. Bạn đang cảm thấy như thế nào? Cơ thể của bạn đang có những biểu hiện gì?

Nhận ra các lựa chọn của bản thân có thể giúp mỗi người áp dụng các kỹ năng tự điều tiết của mình vào thực tế. Tập trung vào việc xác định những gì bản thân đang cảm thấy, cho bản thân thời gian để giữ bình tĩnh và cân nhắc các lựa chọn có thể giúp mình đưa ra lựa chọn tốt hơn. Những bài thực hành thiền sẽ hữu ích trong việc giúp bạn tập trung và tạo không gian cho bạn soi chiếu chính bản thân mình.

  • Cung cấp sự hỗ trợ của người lớn

Sự hỗ trợ của người lớn trong việc xây dựng và phát triển kỹ năng tự điều tiết của thanh thiếu niên là quá trình đồng điều tiết (co-regulation). Đồng điều tiết cung cấp những hỗ trợ thông qua các tương tác ấm áp và tin cậy. Người lớn có thể hướng dẫn và làm gương để thanh thiếu niên có thể hiểu, bày tỏ và điều chỉnh suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của mình. Để giúp thanh thiếu niên có được kỹ năng điều tiết, người chăm sóc (bao gồm cả cha mẹ và giáo viên) cũng như người cố vấn có thể:

Dạy các kỹ năng tự điều tiết thông qua mô hình hóa, tạo cơ hội thực hành các kỹ năng, theo dõi và củng cố tiến bộ của thanh thiếu niên về phát triển kỹ năng và mục tiêu, đồng thời hướng dẫn họ về cách thức, lý do và thời điểm sử dụng các kỹ năng trong các tình huống phức tạp (ví dụ: xung đột giữa các công việc và nhu cầu, sống độc lập).

Xây dựng một mối quan hệ ấm áp, tin cậy mà ở đó thanh thiếu niên cảm thấy an toàn để học hỏi và phạm sai lầm khi phải tự mình đưa ra các quyết định lớn và đối mặt với các tình huống khó khăn (ví dụ: đưa ra quyết định liên quan đến các hành vi nguy cơ trong bối cảnh áp lực đồng trang lứa, đối mặt với những xung đột trong các mối quan hệ).

Cần có mức độ hỗ trợ sâu hơn cho thanh thiếu niên gặp khó khăn trong việc tự điều tiết do đặc điểm cá nhân hoặc trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu. Sự khác biệt cá nhân có thể là do tính khí hoặc các yếu tố di truyền ảnh hưởng đến cách thanh thiếu niên phản ứng với căng thẳng. Những trải nghiệm tiêu cực có thể bao gồm bị lạm dụng, bị bỏ mặc và rối loạn chức năng gia đình. Ngoài ra, thanh thiếu niên sống trong nghịch cảnh thường ít có những người chăm sóc có đủ nguồn lực để tự điều tiết và đồng điều tiết. Những thanh thiếu niên như vậy cũng có khả năng thiếu nguồn lực và môi trường tích cực trong trường học, cộng đồng dân cư và cộng đồng lớn để hỗ trợ phát triển khả năng tự điều tiết.

Thanh thiếu niên có các yếu tố rủi ro cá nhân hoặc môi trường có thể chậm phát triển khả năng tự điều tiết, gây khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ tích cực với người khác và góp phần gây ra các hành vi gây rối và nguy hiểm. Họ có thể phản ứng thái quá trong những tình huống căng thẳng và gặp khó khăn khi sử dụng các chiến lược đối phó hiệu quả. Hơn nữa, kỳ vọng của họ về tương lai có thể bị hạn chế, điều này có thể làm giảm động lực và khả năng đặt mục tiêu dài hạn của họ. Do đó, những thanh niên gặp nghịch cảnh dễ bị tổn thương trước một loạt các khó khăn tiêu cực về sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần suốt đời nếu không được can thiệp. Do đó, cần cung cấp các biện pháp can thiệp tập trung vào hướng dẫn kỹ năng, hỗ trợ người chăm sóc và bối cảnh môi trường cho các thanh thiếu niên này với kỳ vọng rằng có thể đảo ngược những tác động tiêu cực và cải thiện kết quả lâu dài.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Arlin Cuncic (2023). How to Develop and Practice Self-Regulation. Verywell Mind. https://www.verywellmind.com/how-you-can-practice-self-regulation-4163536
  2. Murray, D. W. & Rosanbalm, K. (2017). Promoting Self-Regulation in Adolescents and Young Adults: A Practice Brief. OPRE Report #2015-82. Washington, DC: Office of Planning, Research, and Evaluation, Administration for Children and Families, U.S. Department of Health and Human Services.
  3. Murray, Desiree W., Rosanbalm, Katie, Christopoulos, Christina, and Hamoudi, Amar (2014). Self-Regulation and Toxic Stress Report 1: Foundations for Understanding Self-Regulation from an Applied Perspective. OPRE Report # XXX, Washington, DC: Office of Planning, Research and Evaluation, Administration for Children and Families, U.S. Department of Health and Human Services.
  4. Nour Mohammad Bakhshani & Mohsen Hossienbor (2013). A Comparative Study of Self-Regulation in Substance Dependent and Non-Dependent Individuals.
  • Bài viết liên quan